u hạt sinh mủ

U mềm lây thường gặp ở trẻ nhỏ, song bệnh cũng gặp ở người lớn có hoạt động tình dục và bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Một vấn đề cần lưu ý là u mềm lây sinh dục ở trẻ em có thể do lạm dụng tình dục. Trên toàn cầu, có khoảng 122 triệu người bị ảnh hưởng bởi Former U.S ambassador to the U.N. Amb. Nikki Haley slammed President Biden for showing "weakness" amid Russian President Vladimir Putin's latest threats of using nuclear weapons on "The Five." Joe CHUỖI HẠT NGỌC DƯƠNG VẬT . MỤN RỘP SINH DỤC . XÉT NGHIỆM TPHA . Tiểu ra mủ là triệu chứng của tình trạng viêm nhiễm bộ phận sinh dục rất thường gặp ở những người có đời sống tình dục phức tạp. Chúng ta cùng theo dõi bài viết dưới đây để nâng cao kiến Bị viêm họng hạt có mủ là một tình trạng viêm họng mãn tính, có thể khiến người bệnh bị đau rát họng kéo dài, thậm chí có nguy cơ bị nhiễm trùng huyết. + Không vệ sinh mũi họng đúng cách tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus tấn công gây ra viêm họng hạt có mủ. 1 số thói quen sinh hoạt không tốt cũng có thể dẫn đến tình trạng chảy mủ niệu đạo như: Việc vệ sinh vùng kín không sạch sẽ, quan hệ tình dục không an toàn và thủ dâm quá độ hoặc quan hệ tình dục trong kỳ kinh nguyệt. Chị em dùng dung dịch vệ sinh không phù hợp, dị ứng với bao cao su hoặc không thường xuyên thay băng vệ sinh Site De Rencontre Ado En Ligne Gratuit. U mi mắt là u xuất phát từ mi mắt có thể là u lành tính hoặc ác tính, chỉ ảnh hưởng tới thẩm mỹ hay ảnh hưởng cả tới chức năng của mi có khi cản trở tầm nhìn của mắt. Trong các loại u ở mắt thì u mi mắt là một trong hai loại hay gặp nhất. Được chia làm nhiều loại như sau I. Các loại u mi mắt nguồn gốc biểu mô Các u lành tính – U nhú là sự phát triển của biểu mô có dạng nhiều thùy như bắp cải và mỗi thùy chứa một lõi mạch máu ở trung tâm. Nhiều tổn thương khác nhau ở mi mắt có thể phát triển thành u nhú như mụn cơm, dày sừng quang hóa, dày sừng bã. – U sừng – gai là u lành hoạt tính phát triển nhanh 6-8 tuần. u sừng gai là một khối nhô lên của da, lớn, gần như hình tròn, chưa một lõm rốn keratin ở trung tâm, không có loạn sản. Thường được điều trị bằng cách cắt bỏ. – Dày sừng tăng tiết bã nhờn là một loại u da rất thường gặp ở người lớn tuổi. U cso hình khuy áo nổi trên mặt da, bề mặt màu nâu nhạt, nhờn và có dạng mụn cơm nhỏ. Thường không có viêm trừ khi xảy ra kích thích cơ học hay chấn thương. Dễ bị nhầm với tổn thương tiền ác tính là dày sừng quang hóa. – Dày sừng nhú lộn ngược thường được xếp là một loại tăng sản giả u biểu mô, nhưng bản chất là một dạng dày sừng bã nhờn bị viêm và kích thích. Khối u thường có nhú, những chỗ dày sừng bị lõm vào từ bề mặt thường bắt nguồn từ nang lông. – U nang dạng biểu bì, u nang vùi biểu bì, u nang bã nhờn là những khối biểu bì, tròn, nhẵn bao gồm một vòng tế bào gai bao quanh các mảnh tế bào và keratin. U nang dạng bì dùng để chỉ u nang dạng biểu bì bên trong có chứa các cấu trúc phụ của da. Còn u nang bã nhờn thực sự hiếm gặp bên trong được lát bởi những tế bào bã nhờn, ở giữa có chưa chất lipid ứ đọng giống như phomat. U nang bã nhườn là do ống tuyến bã bị bít tắc. Điều trị những u này cần cắt bỏ toàn bộ tổn thương, dẫn lưu đươn thuần không loại trừ được hoàn toàn các tế bào của thành u, chúng sẽ tiếp tục sinh ra keratin hoặc bã nhởn. – Các tổn thương do nhiễm trùng u mềm lây và mụn cơm là những tổn thương do nhiễm virut ở biểu bì. U mềm lây là những nốt nhẵn nổi lên, điển hình cso một lõm ở trung tâm, chúng nhỏ hơn và ít viêm hơn so với u sừng gai. Điều trị u mềm thường bằng cắt bỏ, nhưng u thường biến mất sau khi rạch hoặc nặn đơn giản hoặc cũng có thể điều trị bằng áp lạnh. Mụn cơm thường gặp và do virut u nhú của người gây ra. Thường gặp hơn ở người trẻ và trẻ em. Chúng là những tổn thương tăng sừng hóa dạng u nhú ở da, thường không có triệu chứng. Điều trị chủ yếu là cắt u, nhưng phải cắt toàn bộ nếu không sẽ làm phát tán virut và gây tái phát nhiều lần. Mụn cơm cũng có thể tự mất trong vòng vài tháng đến 2 năm nên có một số trường hợp không cần điều trị. Các u tiền ác tính Dày sừng quang hóa do tuổi già hoặc do mặt trời khối u là tiền triệu của carcinoma tế bào gai. Dày sừng quang hóa là những tổn thương có tăng sừng hóa, dày lớp gai, di sản, xuất hiện ở những vùng da hở của người già phơi nắng quá nhiều trong thời gian dài. Thường có viêm mạn tính ở chân bì và nhiều tổn thương. Khoảng 25% bệnh nhân dày sừng quang hóa xuất hiện carcinoma tế bào gai ở một hoặc nhiều tổn thương này. Khô da sắc tố đây là bệnh di truyền lặn đặc trưng bằng tổn hại khả năng sửa chữa AND do ánh nắng gây ra. Vùng da hở xuất hiện những vùng tăng sắc tố, teo và giãn mao mạch trong khoảng 10 – 20 tuổi. Về sau xuất hiện nhiều khối u da, bao gồm carcinoma tế bào gai, tế bào đáy và u hắc tố. Các u ác tính Carcinoma tế bào đáy là u ác tính thường gặp nhất của mi mắt. vùng quanh hốc mắt là vị trí thường gặp nhất của u này. Khối u bắt đầu bằng một vết loét nhỏ, cứng, bờ loét thường nối cao, tăng sừng hóa. U phát triển rất chậm nhưng sau nhiều năm có thể đạt kích thước rất lớn. Carcinoma tế bào đáy xâm lấn dần và hủy hoại tại chỗ nưhng hiếm khi di căn. Tuy nhiên nếu không được phát hiện và xử trí chúng có thể xâm lấn rộng dưới da, xương thậm chí cả não. Ranh giới sâu và ngoại vi khó phân định nên có thể tái phát sau khi không cắt hết khối u. Vì vậy cần xét nghiệm mô bệnh học sau phẫu thuật. Các phương pháp bổ sung cho phẫu thuật gồm có chiếu tia, áp lạnh hoặc phương pháp hóa phẫu thuật. Carcinoma tế bào gai chiếm 5% tổng số u ác tính ở mi mắt, có liên quan đến sự tiếp xúc lâu dài với ánh nắng. Carcinoma tế bào gai thường gặp ở mi trên, phát triền chậm, nằm tại chỗ trong thời gian dài, nhưng cuối cùng có thể di căn tới hạch lympho khu vực hoặc những vị trí và nội tạng ở xa. II. Các u tuyến và u phần phụ cận Các u lành và carcinoma tuyến bã tăng sản và u tuyến bã thường xảy ra ở tuyến Meibomius nhưng ít phổ biến. Carcinoma tuyến bã thường gặp hơn và thường bị chẩn đoán nhầm là viêm mi – kết mạc mạn tính hoặc chắp tái phát. Carcinoma tuyến bã thường khởi đầu ở mi mắt nhiều hơn những vị trí khác. Rất ác tính, có tỉ lệ tử vong do di cản ít nhất 20% mặc dù được điều trị. Điều trị Carcinoma tuyến bã lý tưởng nhất là cắt bỏ trên diện rộng, có hoặc không kèm theo chiếu tía bổ xung. Liệu pháp chiếu tía đơn độc đôi khi có hiệu quả nhưng không chắc chắn. – Các u lành và Carcinoma của tuyến mồ hôi u lành tính cảu tuyến mồ hôi của mi mắt bao gồm tuyến Moll khá phổ biến và được phân loại theo mô bệnh học và mức độ biệt hóa. Trong khi đó Carcinoma tuyến mồ hôi rất hiếm gặp, chúng có thể có nguồn gốc tuyến ngoại tiết hoặc bán hủy. – Các u của nang lông là u lành tính xuất phát từ các tế bào nang lông của biểu bì. Đó là tổn thương dạng nốt, nhẵn, cso nhiều nang keratin bao quanh bởi những tế bào đáy nằm bên trong chân bì. III. Các u nguồn gốc ngoại bì thần kinh Những tổn thương sắc tố lành tính – Vết tàn nhang là chấm nhỏ, dẹt, màu nâu ở trên da, do tăng sắc tố ở lớp đáy biểu bì. – Nốt ruồi là những khối giả u bẩm sinh bao gồm những ổ hắc tố bào đã bị biến đổi. Nốt ruồi thường có sắc tố nhạt, hoặc k rõ o trẻ nhỏ nhưng khi tuổi cao lên nốt ruồi di chuyển xuống chân bì đồng thời kém hoạt động hơn. – U hắc tố u hắc tố nguyên phát của mi mắt hiếm gặp hơn u hắc tố của da ở những vị trí khác. U hắc tố có thể phát sinh từ nốt ruồi ranh giới hoặc nốt ruồi hỗn hợp vốn có, nhưng hiếm khi sinh ra từ nốt ruồi chân bì. Sự phát triển của khối u cũng có thể nhanh đến mức che khuất nốt ruồi bên dưới. – Nốt ruồi son ác tính thường thấy trên mặt những bệnh nhân lớn tuổi và có thể liên quan tới sự phơi nắng. tổn thương tiền ác tính này có mức độ sắc tố khác nhau, bờ không đều, lan rộng và thoái triển theo từng đợt Các u thần kinh – U xơ thần kinh u xơ thần kinh của mi là một bệnh di truyền trội đặc điểm quan trọng là có nhiều khối u da làm mi to ra và biến dạng nhiều. – U bao Schwann là u bao thần kinh lành tính, đơn độc, ít gặp, thường có vỏ bao bọc. Chúng thường phát sinh từ hốc mắt nhưng có thể xảy ra ở da, kể cả mi mắt. IV. Các u mạch – U mạch mao mạch loại u mi mắt này xuất hiện ngay từ khi sinh ra, lành tính. Chúng to ra trong 18 tháng đầu sau đó thoái triển trong vóng 5-8 năm. Có thể điều trị bằng tiêm Corticoid vào trong tổn thương. – U mạch hang gồm những mạch máu rãn to, ít có khả năng tự thoái triển. U này hiện nay được điều trị abừng laser argon cho kết quả tốt. – U tế bào nội mạc và u tế bào ngoại mạc Đây là tăng sinh lành tính của các tế bào nội mạc, ngoại mạc mạch máu. Có khả năng chuyển thành ác tính nhưng hiếm. – U bạch mạch chủ yếu xuất hiện ở hốc mắt nhưng cũng có thể ở mi mắt. – U hạt ác tính Sarcoma Kaposi u bao gồm nhiều mao mạch tăng sinh, tế bào nội mạc, tế bào dạng nguyên bào sợi không điển hình. Thường gặp ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, bệnh ưa chảy máu, lây qua đường tình dục. Có nhiều phương pháp điều trị u này như hóa chất, chiếu tía, liệu pháp miễn dịch, cắt bỏ tổn thương hoặc áp lạnh. V. Các u vàng – Ban vàng là u mô bào, lành tính biểu hiện bằng một mảng màu vàng ngay dưới biểu bì. Thường gặp ở nữ giới, nhiều nhất ở vùng góc trong mi trên và mi dưới. Không có viêm. Điều trị bằng laser hay cắt bỏ. – U vàng xơ tương tự như ban vàng nhưng trong tổ chức chứa nhiều mô xơ, thường có viêm và ít biến đồi ác tính. – Bệnh mô bào huyết rất hiếm, biểu hiện bằng những ổ tổn thương nhỏ tương tự u hạt vàng ở người trẻ. – U hạt vàng ở người trẻ khối u lành tính, xảy ra ở trẻ em. U gồm nhiều tổn thương ở các vùng khác nhau của da, có thể xảy ra ở mống mắt và hốc mắt. U tròn, nhẵn, màu da cam. U hạt vàng ở người trẻ có thể tự tiêu. VI. Những tổn thương viêm – Lẹo là những nốt viêm mủ cấp tính của mi mắt. Thường do nhiễm tụ cầu vàng. Điều trị bằng kháng sinh, chườm ấm, đôi khi phải trích dẫn lưu. – Chắp u hạt mạn tính xuất phát từ tuyến Zeis hoặc tuyến Meibomius bị bít tắc. Tổn thương có thể tiêu đi sau nhiều ngày, nhiều tháng để lại phần mô sẹo nhỏ. – U hạt sinh mủ là khối gồ lên đỏ như thịt bò, có cuống, có thể xuất phát từ da hoặc niêm mạc, bao gồm kết mạc, tiết tố mủ hoặc nhày mủ. Mô hạt có thể được cắt bỏ, có thể tự mất đi do tróc đột ngột hoặc thu nhỏ dần. Có thể dùng Corticoid tiêm hoặc tra tại chỗ. – Bệnh Sarcoit xảy ra ở mi mắt, kết mạc và mô nội nhãn. Là u hạt riêng rẽ, không sinh bã đậu. Các viêm khác do nhiễm trùng hoặc ký sinh trùng VII. Các u di căn Bất kỳ loại u mi mắt di căn nào cũng có thể xuất hiện ở mi mắt, nhưng hiếm gặp. Vị trí hay gặp nhất là hắc mạc và hốc mắt. Bệnh viện Mắt Sài Gòn Bs. Nguyễn Thị Phương Theo Healthline, u hạt sinh mủ là một khối u nhỏ trên da có màu đỏ, thường ảnh hưởng đến trẻ em, thanh niên và phụ nữ mang thai. U hạt sinh mủ chứa một lượng lớn mạch máu và có xu hướng chảy máu. U hạt sinh mủ không phải là ung thư và thường xuất hiện trên ngón tay, mặt, bàn tay, cánh tay và cổ. Theo Healthline giải thích, u hạt sinh mủ thường xuất hiện sau chấn thương, vết cắn, sau khi thường xuyên gãi da và thay đổi nội tiết tố. U hạt sinh mủ đầu tiên xuất hiện như một tổn thương tăng nhanh về kích thước trong vài tuần đầu trước khi trở thành một cục u nổi lên, có màu hơi đỏ hoặc hơi vàng không lớn hơn 2 cm. U hạt sinh mủ thường tự biến mất, nhưng có thể xuất hiện trở lại sau khi cắt bỏ. Các u hạt sinh mủ lớn có thể được cạo ra, cắt lớp và đốt cháy. U hạt sinh mủ cũng có thể được phẫu thuật cắt bỏ, đốt cháy bằng hóa chất hoặc loại bỏ bằng phẫu thuật laser. Các u hạt sinh mủ trên mắt được phẫu thuật cắt bỏ hoặc điều trị bằng corticosteroid để giảm viêm. Chảy máu nhiều và phát triển chiều cao là những biến chứng điển hình của u hạt sinh mủ, Healthline lưu ý. U hạt sinh mủ được chẩn đoán bằng cách kiểm tra bề ngoài và sinh thiết cũng có thể được sử dụng. Lấy mẫu mô giúp chẩn đoán chính xác hơn và loại trừ các tình trạng ung thư như u ác tính, ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy. U hạt nhiễm khuẩn, còn gọi là u hạt giãn mạch, có biểu hiện một khối u trên da màu đỏ, bóng, hình tròn hoặc bầu dục, giống quả dâu hoặc miếng thịt sống. Đây là căn bệnh lành tính nhưng gây khó chịu vì gây vướng và chảy máu. Ai cũng có thể mắc, nhưng bệnh phổ biến ở trẻ em và thanh niên. U hạt nhiễm khuẩn là phản ứng viêm với biểu hiện là cục u màu thịt, ẩm hoặc có vỏ cứng. Các khối u mạch máu đỏ thường xuất hiện rải rác ở da và niêm mạc, bao gồm các mao mạch sinh trưởng bất thường trong một chất nền phù nề. Tổn thương gây ra bởi bệnh u hạt nhiễm khuẩn trên mô mạch không có nguồn gốc vi khuẩn và bản chất cũng không phải là một u hạt thực sự. Tuy nhiên, triệu chứng thường tiến triển nhanh chóng, hay gặp ở vị trí vừa bị chấn thương đặc biệt là các chi và vùng mặt. Đường kính vùng thương tổn thường không lớn hơn 2 cm, kèm theo phản ứng mạch máu và sợi đáp ứng với tổn thượng bì nằm phía trên u hạt trở nên mỏng, dễ tổn thương, dễ vỡ, gây chảy máu và da xung quanh có thể bị viêm, bao quanh bởi một viền thượng giới hạn rõ. Đối với phụ nữ mang thai, u hạt nhiễm khuẩn có thể trở nên lớn và nổi cộm lên gọi là khối u mang thai hoặc giãn mạch lợi.XEM THÊM Tìm hiểu bệnh u hạt dị ứng và viêm mạch 2. Triệu chứng của bệnh u hạt Bệnh u hạt biểu hiện bằng các chấm nhỏ, màu đỏ, nâu đỏ hoặc xanh đen, phát triển nhanh trong vài ngày tới vài tuần, kích thước thường trong khoảng 2mm - 2cm, dễ chảy máu, có thể viêm loét, hình thành vảy tiết, gây đau đớn. Đa số bệnh nhân chỉ xuất hiện một nốt đỏ đơn độc. Những vị trí hay gặp u hạt nhiễm khuẩn là đầu, cổ, nửa trên thân mình, tay nhất là ngón tay và chân. Phụ nữ mang thai thường bị ở trong 25% bệnh nhân mắc u hạt trên da với các vấn đề về da như sauMàu da thay đổi Vùng da xuất hiện u hạt có thể có màu tối hoặc sáng hơn bình thường;Tổn thương Vết lở loét do u hạt nhiễm khuẩn gây mất thẩm mỹ, đặc biệt là trên mũi, má và tai;Phát ban Xuất hiện các nốt phát ban có màu đỏ hoặc đỏ tím, thường ở vị trí cẳng chân hoặc mắt cá chân;Cục bướu, u nhỏ Phát triển dưới da, thường gặp xung quanh tổn thương do sẹo hoặc vết xăm. Hình ảnh người bệnh mắc u hạt nhiễm khuẩn tại vùng da tay Đôi khi, bệnh u hạt còn gây ảnh hưởng đến mắt nhưng không kèm theo bất kỳ triệu chứng nào. Các triệu chứng ở mắt nếu có, bao gồmSưng tấy đỏ và mờ mắt;Đau mắt;Nhạy cảm với ánh sáng. 3. Nguyên nhân gây ra u hạt nhiễm khuẩn Nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ ràng. Các tế bào và mô bị viêm tập trung lại và lan rộng thành những bướu nhỏ hoặc khối u. Những u này khi phát triển lớn sẽ gây cản trở chức năng của chính bộ phận mà nó gây số yếu tố tạo ra thương tổn của u hạt nhiễm khuẩn bao gồmNhiễm khuẩn tụ cầu vàng;Sau một sang chấn nhỏ ví dụ bị kim đâm gây ra thương tổn;Ảnh hưởng từ hormon bệnh có thể gặp ở phụ nữ mang thai hoặc những người dùng thuốc tránh thai;Tác dụng phụ từ một số thuốc như retinoid đường uống acitretin hoặc isotretinoin, hoặc thuốc ức chế protease;Nhiễm virus;Dị dạng mạch máu u hạt có thể gặp ở cả nam và nữ, tuy nhiên thường gặp ở nữ nhiều hơn. Bệnh nhân thường trong độ tuổi 15 đến 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ của bệnh u hạt nhiễm khuẩn làTiền sử gia đình Khả năng mắc bệnh gia tăng nếu trong gia đình có người đã mắc bệnh;Bẩm sinh hệ miễn dịch chưa tốt hoặc có vấn đề về rối loạn tự miễn;Ô nhiễm môi trường sống hoặc thiếu nước sạch. Tiền sử gia đình là một trong các yếu tố nguy cơ mắc bệnh u hạt nhiễm khuẩn 4. Chẩn đoán và điều trị u hạt nhiễm khuẩn Chẩn đoán bệnhNhận biết u hạt nhiễm khuẩn chủ yếu dựa vào bệnh sử và triệu chứng lâm sàng. Thực hiện sinh thiết mô bệnh học giúp bác sĩ loại trừ khả năng mắc các bệnh khác, như ung thư tế bào sắc tố không màu amelanotic melanoma. Hình ảnh điển hình của mô u hạt nhiễm khuẩn là tập hợp dạng thùy các mạch máu thuộc cấu trúc mô bị là kỹ thuật phân tích cần thiết cho tất cả các mô bị loại bỏ vì những thương tổn này đôi khi rất giống với ung thư tế bào hắc tố hoặc khối u ác tính khác, do đó cần phải được phân biệt Điều trịPhương pháp điều trị u hạt nhiễm khuẩn sẽ phụ thuộc vào kích thước khối u, vị trí xuất hiện trên cơ thể và nguyên nhân từng trường hợp cụ với phụ nữ mang thai, thương tổn sẽ mất đi sau khi sinh con, không cần phải chữa trị nếu không có các triệu chứng như chảy máu hoặc đau nhiều. Cách này giúp đảm bảo an toàn cho sự phát triển của thai nhi. Sau khi sinh, nếu khối u không mất đi, bác sĩ sẽ áp dụng những biện pháp điều trị dưới hợp u hạt nhiễm khuẩn do dùng thuốc, cần ngưng sử dụng các thuốc nghi ngờ gây bệnh theo chỉ định bác hạt nhiễm khuẩn ở mắt có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật hoặc bôi thuốc mỡ có chứa corticosteroid nhằm giảm phương pháp loại bỏ thương tổn lớn gây ra bởi bệnh u hạtNạo khối u bằng curret;Cắt bỏ bằng laser;Phẫu thuật lạnh Cryosurgery Loại bỏ thương tổn bằng nitơ lạnh cao áp;Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu về liệu pháp điều trị mới, không xâm lấn, đặc biệt cho trẻ em. Một số nghiên cứu cho thấy dùng thuốc bôi da timolol có hiệu quả làm giảm dần kích thước thương tổn mà không gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuy nhiên, bệnh vẫn có nguy cơ tái phát sau khi điều trị. Bác sĩ có thể sử dụng laser trong điều trị u hạt nhiễm khuẩn 5. Kiểm soát u hạt nhiễm khuẩn Bệnh u hạt sẽ được cải thiện nếu tuân thủ chế độ sinh hoạt phù hợp như sauĂn nhạt, giảm muối trong khẩu phần khi đang dùng thuốc steroidKiểm tra huyết áp và xét nghiệm đái tháo đườngChủng ngừa vắc-xin phế cầu khuẩn viêm phổiKhông tự ý ngưng uống thuốc hoặc thay đổi liều lượng khi chưa được bác sĩ chỉ địnhKhông tự ý cạy và loại bỏ khối u tại nhàBỏ hút thuốc láHạn chế tiếp xúc trực tiếp ánh nắng mặt lại, u hạt nhiễm khuẩn là một dạng u lành tính, nhưng cũng có thể gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân, đặc biệt là khi khối u bị xuất huyết. Bên cạnh đó, những khối u trên da cũng ảnh hưởng đến vẻ thẩm mỹ bên ngoài. Vì thế, nếu gặp vấn đề rắc rối với căn bệnh này, hãy đến cơ sở y tế chuyên khoa để thăm khám và áp dụng phương pháp điều trị thích viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là địa chỉ thăm khám, điều trị và phòng ngừa các bệnh lý, trong đó có chuyên khoa Ung bướu. Khi thực hiện quy trình thăm khám tại Vinmec, Quý khách hàng sẽ được đón tiếp và sử dụng cơ sở vật chất, hệ thống máy móc hiện đại đi kèm với các dịch vụ y tế hoàn hảo dưới sự chỉ dẫn, tư vấn của các bác sĩ giỏi, được đào tạo bài bản ở cả trong và ngoài nước. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo U hạt và viêm đa mạch được đặc trưng bởi viêm u hạt hoại tử, viêm mạch vừa và nhỏ, viêm cầu thận hoại tử, thường tạo thành hình liềm. Thường ảnh hưởng tới đường hô hấp trên, đường hô hấp dưới và thận, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới bất kỳ cơ quan nào. Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào các cơ quan và hệ thống bị bệnh. Bệnh nhân có thể có các triệu chứng của đường hô hấp trên và dưới như chảy máu mũi, xuất huyết, ho, sau đó là cao huyết áp, phù hoặc có các triệu chứng của các cơ quan bị tổn thương. Chẩn đoán thường đòi hỏi phải sinh thiết. Điều trị bằng corticosteroid kết hợp với một thuốc ức chế miễn dịch. Điều trị thường có thể đạt được lui bệnh nhưng hay tái hạt với viêm đa mạch GPA gặp ở khoảng 1/ người; thường gặp nhất ở người da trắng nhưng cũng có thể gặp ở các dân tộc thiểu số và ở bất kỳ độ tuổi nào. Tuổi khởi phát trung bình là 40 nhân của GPA chưa rõ, nhưng có vai trò của cơ chế miễn dịch. Hầu hết các bệnh nhân có bệnh tiến triển toàn thể có kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính ANCA. Các u hạt điển hình bao gồm các tế bào biểu mô dạng mô bào và thường có các tế bào khổng lồ. Có mặt các tương bào, bạch cầu lympho, bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu ái toan. Tình trạng viêm ảnh hưởng tới các mô và mạch máu; viêm mạch có thể là một phần nhỏ hoặc lớn của bệnh. Các ổ hoại tử nhỏ, thường có bạch cầu đa nhân trung tính các ổ vi áp xe xuất hiện sớm. Hoại tử nhỏ tiến triển thành ổ hoại tử lớn. Vùng trung tâm của hoại tử được gọi là hoại tử địa lý được bao quanh bởi các tế bào lympho, tương bào, đại thực bào và các tế bào khổng lồ. Xung quanh khu vực này là vùng tăng sinh của các tế bào xơ và được bao quanh bởi các mô mạn tính không đặc hiệu và hoại tử mô có thể xuất hiện ở mũi. Toàn bộ các triệu chứng mô bệnh học được biểu hiện rõ nhất ở phổi, nhưng các đặc điểm chẩn đoán không điển hình trên các mảnh sinh thiết nhỏ được thực hiện xuyên thành phế quản. Ở thận, tổn thương thường gặp nhất là viêm cầu thận cục bộ hình liềm ít miễn dịch với hoại tử và huyết khối tại các quai thận hoặc các ống thận lớn hơn. Các tổn thương mạch và u hạt lan tỏa ít gặp. Đường hô hấp trên Đau xoang, chảy nước mũi trong hoặc dịch mủ, có thể chảy máu mũi. Niêm mạc xuất hiện các hạt giống như đá cuội, dễ vỡ; các vết loét, vỏ đen dày và thủng vách mũi thường gặp. Viêm sụn mũi có thể gây sưng, đau và gãy gốc mũi mũi gãy. Bệnh nhân có thể có tiền sử viêm xoang tái phát đáp ứng không đầy đủ với nhiều loại kháng sinh và cần phẫu thuật xoang một hoặc nhiều lần trước khi được chẩn đoán. Có thể có nhiễm trùng thứ phát ví dụ, do Staphylococcus aureus. Hẹp dưới thanh môn gây các triệu chứng như đau thanh quản, khàn giọng, khó thở, khò khè, và thở rít có thể Viêm tai, giảm thính lực, chóng mặt và viêm sụn có thể gặp. Tai giữa, tai trong, và xương chũm thường bị ảnh Có thể đỏ và sưng lên. Viêm và tắc ống mũi lệ, viêm kết mạc, viêm củng mạc mắt, viêm màng bồ đào, hoặc viêm mạch võng mạc có thể xảy ra. Thâm nhiễm viêm trong khoang sau hốc mắt giả u hốc mắt có thể gây lồi mắt, chèn ép dây thần kinh thị và mù. Lan rộng tới các cơ quanh hốc mắt dẫn tới nhìn đôi. Nếu xuất hiện các triệu chứng mắt nguy hiểm, cần đánh giá và điều trị ngay lập tức tránh mù vĩnh hô hấp dưới Các biểu hiện hô hấp là phổ biến. Viêm phế quản lớn và các nhánh của nó có thể gây ran ngáy khu trú, viêm phổi sau tắc nghẽn và xẹp phổi. Tổn thương một hoặc nhiều nốt ở phổi, có thể có hoặc không có hang, các tổn thương thâm nhiễm vào nhu mô đôi khi gây ra các triệu chứng như đau ngực, khó thở và ho có đờm. Khó thở kèm theo tổn thương thâm nhiễm cả hai trường phổi, có thể có hoặc không có ho máu, có thể là dấu hiệu của xuất huyết phế nang và cần phải được đánh giá ngay lập Bệnh động mạch vành có thể gặp nhưng thống cơ xương khớp Bệnh nhân thường có biểu hiện đau cơ, đau các khớp hoặc viêm khớp không có tổn thương phá hủy Có thể xuất hiện các sẩn xuất huyết, các nốt dưới da đau, mụn sẩn, viêm mạch mạng xanh tím hoặc thần kinh Viêm mạch có thể gây ra bệnh lý thần kinh ngoại biên do thiếu máu cục bộ, tổn thương não hoặc lan rộng tình trạng viêm vào mô thần kinh từ các vị trí lân cận. Các tổn thương có nguồn gốc từ các xoang hoặc tai giữa có thể phát triển trực tiếp ra vùng sau hầu và nền sọ, dẫn tới bệnh lý thần kinh sọ, lồi mắt, đái tháo nhạt hoặc viêm màng thống tĩnh mạch Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể xuất hiện ở chi dưới, đa số là trong trường hợp bệnh u hạt với viêm đa mạch hoạt cơ quan khác Đôi khi, xuất hiện khối viêm ở vú, thận, tuyến tiền liệt hoặc các cơ quan khác. Xét nghiệm định kỳ, bao gồm xét nghiệm nước tiểuXét nghiệm kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính CT ngực và xoang mũiSinh thiết để chẩn đoán xác địnhCần nghĩ tới u hạt với viêm đa mạch ở những bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu đường hô hấp mạn tính, không giải thích được bao gồm cả viêm tai giữa ở người lớn, đặc biệt là khi có những biểu hiện ở các cơ quan khác, nhất là thận, cũng gợi ý chẩn đoán. Các xét nghiệm thông thường trong phòng thí nghiệm được thực hiện, nhưng xét nghiệm ANCA và sinh thiết chọn lọc các mô liên quan mang lại kết quả cụ thể nhất. Sinh thiết mô mũi hiếm khi đưa ra chẩn đoán xác xét nghiệm thường quy bao gồm tốc độ máu lắng, protein phản ứng C, công thức máu, công thức bạch cầu, albumin và tổng protein huyết thanh, creatinine huyết thanh, tổng phân tích nước tiểu, protein niệu 24 giờ và chụp X-quang ngực. CT mũi xoang có thể cho thấy niêm mạc xoang dày lên hoặc mờ, thủng vách ngăn mũi và tổn thương xương. Chụp CT ngực không có thuốc cản quang là cần thiết vì phim X-quang ngực thông thường có thể bỏ sót các tổn thương như các nốt, khối và/hoặc các tổn thương dạng hang gây ra do u hạt bạch cầu ái toan với viêm đa khớp. Hầu hết các bệnh nhân trong đợt bệnh tiến triển có tốc độ máu lắng và protein phản ứng C tăng, albumin và protein tổng trong huyết thanh giảm, thiếu máu, giảm tiểu cầu, bạch cầu giảm nhẹ hoặc vừa. Hồng cầu bất thường về hình thái, xuất hiện trụ hồng cầu trong nước tiểu là dấu hiệu chỉ điểm tổn thương cầu thận. Có thể có protein niệu. Có thể tăng creatinine huyết thanh. Xét nghiệm huyết thanh để phát hiện kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính ANCA, sau đó là các xét nghiệm ELISA để phát hiện các kháng thể đặc hiệu. Hầu hết bệnh nhân bệnh hoạt động có ANCA bào tương c-ANCA, và các kháng thể kháng proteinase-3 PR3 dương tính; những dấu hiệu này kết hợp với các dấu hiệu đặc trưng trên lâm sàng gợi ý số bệnh nhân có các bệnh lý khác kèm theo như viêm nội tâm mạc do vi khuẩn, lạm dụng cocaine, lupus ban đỏ hệ thống, bệnh do amip, lao, xét nghiệm ANCA dương tính. Do các xét nghiệm để chẩn đoán bệnh có khả năng bị dương tính giả trong cộng đồng và giá trị dự đoán dương tính khi xét nghiệm ANCA dương tính là khoảng 50%, do đó xét nghiệm ANCA chỉ nên chỉ định ở những bệnh nhân có nguy cơ trung bình hoặc cao bị GPA hoặc các bệnh lý viêm mạch liên quan tới ANCA khác ví dụ như những bệnh nhân chảy máu phế nang, viêm thận cầu thận hoặc bệnh lý đơn dây thần kinh đa ổ và các biểu hiện khác của viêm đa vi mạch hoặc GPA. Xét nghiệm ANCA dương tính không loại trừ được các tổn thương nhiễm trùng do vi khuẩn không điển hình và nấm; do đó với bệnh nhân ANCA dương tính và có tổn thương dạng hang ở phổi vẫn cần nội soi phế quản, xét nghiệm nuôi cấy và các xét nghiệm khác để loại trừ lao và nhiễm nấm. Không nên dùng xét nghiệm ANCA chuẩn độ để hướng dẫn điều trị tiếp theo. Trong thời gian lui bệnh, ANCA có thể tăng lên hoặc chuyển từ âm tính sang dương tính. Một số bệnh nhân không có triệu chứng tái phát; số khác có thể có các triệu chứng tái phát hoặc xấu đi ngay sau khi được làm xét nghiệm hoặc trong vài tuần, vài tháng hoặc vài năm tiếp làm sinh thiết để xác định chẩn đoán GPA. Các vị trí có triệu chứng bất thường trên lâm sàng nên được sinh thiết trước. Sinh thiết mô phổi tổn thương có khả năng tìm thấy các dấu hiệu điển hình nhất, mổ nội soi lồng ngực là phương pháp tiếp cận tốt nhất. Nuôi cấy mảnh sinh thiết phổi hoặc xoang để loại trừ nhiễm khuẩn. Sinh thiết thận thấy tổn thương viêm thận cầu thận hình liềm hoặc không có hình liềm thành ổ hoại tử ít miễn dịch gợi ý chẩn đoán. Sinh thiết nhiều vị trí khác nhau cũng có thể cung cấp các thông tin giải phẫu bệnh giúp định hướng điều trị như xơ hóa thận.Chẩn đoán phân biệt bao gồm các bệnh lý của mạch máu nhỏ và vừa khác. Nhiễm khuẩn, đặc biệt là những tổn thương do nấm phát triển chậm hoặc các vi khuẩn kháng axit, nên được loại trừ bằng cách nhuộm và nuôi cấy các mẫu bệnh phẩm. Tiên lượng phụ thuộc vào mức độ nặng và phạm vi của bệnh và ít nhất là vào tốc độ điều trị diễn ra như thế thuốc ức chế miễn dịch trong trường hợp bệnh nặng đã cải thiện đáng kể tiên lượng của bệnh. Nếu được điều trị, khoảng 80% bệnh nhân có thể đạt lui bệnh hoàn toàn, nhưng khoảng một nửa số đó sẽ tái phát, tái phát có thể xuất hiện trong khi đang điều trị duy trì lui bệnh hoặc sau khi kết thúc điều trị thường là sau nhiều năm. Bắt đầu lại với liều khởi đầu hoặc tăng liều điều trị thường có thể kiểm soát được bệnh. Tuy nhiên, 90% bệnh nhân có các bệnh lý khác kèm theo do hậu quả của bệnh và/hoặc do điều trị. Để đạt được lui bệnh trong trường hợp GPA de dọa tính mạng hoặc tổn thương cơ quan, sử dụng liều cao corticosteroid kết hợp với cyclophosphamide hoặc rituximab. Để đạt lui bệnh trong GPA ít nghiêm trọng, sử dụng corticosteroid kết hợp với methotrexate hoặc duy trì lui bệnh, sử dụng rituximab đơn độc hoặc thuốc khác như methotrexate, azathioprine, hoặc mycophenolate mofetil rituximab kết hợp với một hoặc các thuốc còn lại, đôi khi kết hợp với corticosteroid liều thấp, nếu bệnh nhân tái phát nhiều lần hoặc GPA khó kiểm soátGhép thận nếu cầnĐiều trị u hạt với viêm đa mạch phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh. Phối hợp nhiều chuyên khoa trong trường hợp tổn thương nhiều cơ quan, thường bao gồm một bác sĩ thấp khớp học, bác sĩ tai mũi họng, hô hấp và thận. Bệnh nhân có những biểu hiện nặng đe dọa tới tính mạng hoặc cơ quan như xuất huyết phế nang, viêm cầu thận tiến triển nhanh, bệnh lý đơn dây thần kinh đa ổ cấp tính cần phải nhập viện ngay lập tức để điều trị nhằm mục đích đạt lui bệnh. Những bệnh nhân này cần điều trị bằng corticosteroid liều cao và cyclophosphamide hoặc rituximab xem Gây cảm ứng để đạt lui bệnh Khởi đầu điều trị Viêm mạch là bệnh lý viêm các mạch máu, thường dẫn tới thiếu máu, hoại tử và tổn thương viêm ở các cơ quan. Viêm mạch có thể xuất hiện ở bất kỳ mạch máu nào - các động mạch, tiểu động mạch,... đọc thêm . Hiệu quả của rituximab và cyclophosphamide có vẻ tương tự nhau trong việc đạt được lui bệnh và duy trì lui bệnh 1 Tài liệu tham khảo về điều trị U hạt và viêm đa mạch được đặc trưng bởi viêm u hạt hoại tử, viêm mạch vừa và nhỏ, viêm cầu thận hoại tử, thường tạo thành hình liềm. Thường ảnh hưởng tới đường hô hấp trên, đường hô hấp dưới... đọc thêm . Trao đổi huyết tương đã không được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong hoặc bệnh thận giai đoạn cuối 2 Tài liệu tham khảo về điều trị U hạt và viêm đa mạch được đặc trưng bởi viêm u hạt hoại tử, viêm mạch vừa và nhỏ, viêm cầu thận hoại tử, thường tạo thành hình liềm. Thường ảnh hưởng tới đường hô hấp trên, đường hô hấp dưới... đọc thêm .Rituximab dường như đặc biệt hữu ích trong việc giảm nguy cơ tái phát. Trong một nghiên cứu trên bệnh nhân GPA và các bệnh viêm mạch liên quan với ANCA khác, các tổn thương tái phát xảy ra ở khoảng 5% bệnh nhân được điều trị với rituximab nhưng với những bệnh nhân được điều trị bằng azathioprine thì tỷ lệ này là 29% 3 Tài liệu tham khảo về điều trị U hạt và viêm đa mạch được đặc trưng bởi viêm u hạt hoại tử, viêm mạch vừa và nhỏ, viêm cầu thận hoại tử, thường tạo thành hình liềm. Thường ảnh hưởng tới đường hô hấp trên, đường hô hấp dưới... đọc thêm . Nên sử dụng rituximab đơn độc hay kết hợp với một loại thuốc khác, liều và thời gian sử dụng rituximab như thế nào thì vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu hồi cứu, tỷ lệ tái phát thấp hơn khi phối hợp rituximab với methotrexate, azathioprine hoặc mycophenolate mofetil hơn là sử dụng rituximab đơn độc. Liều tối ưu rituximab trong điều trị duy trì chưa được xác định. Sử dụng corticosteroid liều thấp thường được sử dụng để duy trì lui bệnh. Trường hợp bệnh ít nguy hiểm, corticosteroid và methotrexate được sử dụng để đạt được lui bệnh. Rituximab có thể được sử dụng thay cho methotrexate. Trường hợp có các biểu hiện trên đường hô hấp trên, rituximab có vẻ giúp duy trì lui bệnh tốt hơn cyclophosphamide, methotrexate hay liều corticosteroid tới liều thấp nhất có thể hoặc ngừng mũi xoang bằng nước muối, kết hợp hoặc không kết hợp với thuốc mỡ bôi mũi mupirocin 2%, giúp giảm các mảng bám và nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng thứ trị hẹp đoạn dưới thanh môn là khó. Các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân có thể không hiệu quả. Tiêm corticosteroid tác dụng kéo dài vào trong tổn thương, với tác dụng giãn nở nhẹ nhàng, tăng dần, làm tăng hiệu quả đáng kể và giảm tỷ lệ phải mở thông khí nhân cần được hướng dẫn về các dấu hiệu bệnh tái phát để có thể phát hiện sớm các dấu hiệu. Ghép thận đã được thực hiện thành công; nguy cơ tái phát sau ghép giảm so với điều trị lọc máu duy trì một phần có thể là do sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để chống thải ghép. 1. Stone JH, Merkel PA, Spiera R, et al Rituximab versus cyclophosphamide for ANCA-associated vasculitis. N Engl J Med 363221–232, 2010. doi Walsh M, Merkel PA, Peh CA, et al Plasma exchange and glucocorticoids in severe ANCA-associated vasculitis. N Engl J Med 3827622-631, 2020. doi 3. Guillevin L, Pagnoux C, Karras A, et al Rituximab versus azathioprine for maintenance in ANCA-associated vasculitis. N Engl J Med 3711771–1780, 2014. doi Trong u hạt với viêm đa mạch, tổn thương viêm các mạch máu nhỏ và vừa có thể ở bất kỳ cơ quan nào, đặc biệt là thận gây viêm cầu thận, đường hô hấp trên và dưới với viêm hạt nhu mô hoại tử, thường nổi bật hơn so với viêm thể biểu hiện trên các cơ quan khác nhau và thường bao gồm các triệu chứng của đương hô hấp trên và dưới như chảy nước mũi tái phát hoặc chảy máu cam, ho sau đó là tăng huyết áp, phù do liên quan đến thận.Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính và sinh thường tái phát và điều trị có thể gây ra các biến chứng kèm lui bệnh bằng corticosteroid kết hợp với một thuốc ức chế miễn trì lui bệnh bằng methotrexate, azathioprine, hoặc rituximab và giảm liều corticosteroid. Nguồn chủ đề U hạt nhiễm khuẩn là cục màu thịt, ẩm hoặc có vỏ cứng, thường rải rác các khối u mạch máu đỏ bao gồm các mao mạch sinh sôi nảy nở trong một chất nền phù thương bao gồm mô mạch, không có nguồn gốc vi khuẩn và cũng không phải là một u hạt thực sự. Nó phát triển nhanh chóng, thường ở vị trí chấnthương gần đây mặc dù không nhớ lại, thường không lớn hơn 2 cm đường kính, và có thể biểu hiện phản ứng mạch máu và sợi đáp ứng với tổn thương. Không liên quan tuổi và giới. Lớp thượng bì nằm phía trên mỏng và tổn thương có xu hướng dễ vỡ, dễ chảy máu và không sưng tấy khi ấn vào. Đáy có thể có cuống và bao quanh bởi một viền thượng. Trong thời gian mang thai, u hạt có thể trở nên lớn và nổi lên gọi là khối u mang thai mang thai hoặc giãn mạch lợi. Sinh thiếtChẩn đoán u hạt bao gồm sinh thiết và mô học. Phân tích mô học là cần thiết cho tất cả các mô bị loại bỏ vì những thương tổn này thỉnh thoảng giống và cần phải được phân biệt với ung thư tế bào hắc tố hoặc khối u ác tính khác. Cắt hoặc nạo và sấy điệnĐiều trị u hạt u hạt nhiễm khuẩn bao gồm loại bỏ bằng cách cắt bỏ hoặc nạo và sấy điện, nhưng các tổn thương có thể tái phát. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.

u hạt sinh mủ